Thông báo
Lễ dâng hương kỷ niệm 307 năm Ngày Đệ nhị Đức Thánh Tổ Tông Diễn hiệu Chân Dung nhập niết bàn
Thời gian vào hồi 08 giờ 00 phút ngày 16/8/2019 (tức ngày 16/7 năm Kỷ Hợi); Địa điểm tại Tổ Đình Thánh Quang, thôn Nhẫm Dương, xã Duy Tân, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
Rất hân hạnh được đón tiếp.
 

NGỮ LỤC CỦA TỔ ĐỆ NHỊ

THÁNH TỔ QUỐC SƯ TÔNG DIỄN HIỆU CHÂN DUNG

(Sa môn Trí Hải sưu tầm)

 

 
                                         

Tổ Đệ Nhị là: Hòa Thượng Chân Dung, pháp húy là Tông Diễn, Đại Tuệ Thiền Sư, tặng phong Đại Thừa hóa thân Bồ Tát.

Không biết người quê quán ở đâu, tự vân du (Vân thủy) khắp nơi khi gặp Hòa Thượng Thủy Nguyệt từ Bắc (Trung Quốc) về Nam nghỉ, ở chùa Vọng Lão trên núi Yên Tử, liền vào lễ bái Hòa Thượng, hỏi rằng: " Như ta sẽ đi nghỉ, vậy ngươi đợi đến giờ nào cho cái nghỉ ngơi ấy ra". Tổ Sư bạch rằng: Giờ dần mặt trời mọc đứng, trông bóng đúng ngọ thì mới ra. Hòa Thượng lại hỏi : " Bảo hiệu giờ ấy như thế nào?". Tổ Sư đem kệ bạch rằng:

Ưng hữu vạn duyên hữu

Tùy vô nhất thiết vô

Hữu vô câu bất lập

Cạnh cạnh nguyệt trung thu

Tạm dịch:

Có thì có cả muôn duyên

Không thì khắp hết các miền đều không

Có không không lập mảy lông

Trăng thu vằng vặc giữa trong đêm rằm./.

 

Hòa Thượng vứt xuống nói: “Tông Tào Động hợp quân thần, ngày sau nối cho tông phái được thịnh vượng, cho ngươi lấy tên là Tông Diễn". Từ đây theo hầu luôn luôn bênh cạnh dưới gối, cho đến khi về giữ việc hầu hạ ở chùa Hạ Long, sớm hôm không rời tả hữu, ngày thời đi khuyên giáo để cung chúng, đêm thời thăm hỏi cho hiểu nghĩa lý thâm huyền, có lúc ngồi thuyền định mà lách không đặt xuống chiếu, có lúc tụng kinh suốt đêm không ngủ, chịu đựng vất vả, nhẫn khổ không tiếc thân phàm. Năm 32 tuổi thụ giới Cụ Túc, xong bạch với Hòa Thượng xin đi hành cước, sam phương (đi thăm hỏi đạo khắp các nơi) chợt  thấy nhà Vua (niên hiệu Vĩnh Thịnh) hạ lệnh sức cho các quan từ quân phủ huyện khắp trong thiên hạ, bất cứ ở đâu có Tăng Ni già trẻ nhất luật đều san phẳng đuổi hết cho vào ở những nơi rừng rậm. Tổ Sư thấy thế, lòng son đau đáu tự nghĩ rằng: "Làm sao Vua đối với Đạo (Phật)  lại nỡ cho là vô dụng vậy. Nếu như ở núi rừng có thể nói pháp cho đá phải gật đầu, giảng kinh có thể hoa trên trời rơi xuống chẳng qua đối với các loại vật vô tình kia thì có ích lời gì cho chúng sinh đâu. Ví dụ không hoằng dương được đạo lớn, thì đem gì để báo ân đối với Phật Tổ.

Độc thiện kỳ thân (hay lấy một mình) làm sao độ được cho các Hàm Linh trong bể khổ, thành ra uổng công vào cửa Phật, luống qua một đời ở Phạm Uyển (chùa) chi bằng rời chân khỏi nơi sơn dã (núi rừng hoang vắng) đưa thân về chốn thần kinh (thủ đô) có thể động đạt tới cửu trùng (Vua) tất có thể hoằng dương Tam Bảo, gió từ quét sạch mây mù trong rừng thuyền, mặt trời trí tuệ chói lọi soi khắp mười phương. Mưa pháp tưới khắp cả cành lá trong vườn nhà Vua đều tươi tốt, song mê trong bốn bể đều lặng im, do đó lên nhà phương trượng đỉnh lễ Tổ Sư Thủy Nguyệt, đem bạch rõ mọi việc trước sau, xin Tổ cứ yên nghỉ trong chốn lâm tuyền để dưỡng tính ra vào xem cơ cho hợp giáo, nay con xin tạm mở cửa phương tiện, đến tâu với Vua, để quay bánh xe pháp mở ra con đường quang minh chính đại.

Hòa Thượng thấy nói gật đầu tới ba lần, rồi đưa cho một quyển Kinh Kim Cương mang giữ gìn sớm hôm tùy phương độ thế. Tổ Sư từ hạ bước chân xuống cửa núi, phới phới mưa lành ướt hành lý, ánh bóng mây soi gậy tích, trong rừng oanh hót yến kêu. Hình như tiếng tiễn đưa không ngớt, giữa đường sang hèn cùng với tựa hồ muôn hình dáng theo đi. Không mấy đã đi tới bến đò Chiều, ở đây thấy trời xanh nước biếc một mầu, chèo quế lướt qua cảnh tình lặng lẽ ngẫu hứng thành bài thơ như sau:

Thiên tầm bích thủy tiêu thanh thiên

Vạn khoảnh ba đào tự thiếp nhiên

Quế trao nhậm tùy, ngô chuyển bát

Từ hàng phổ tế biến tam thiên

Tạm dịch:

Trời xanh nước biếc khắp bao miền

Muôn khoảnh sóng cồn tự lặng yên

Chèo quế tha hồ ta bẻ lái

Thuyền từ cứu vớt khắp ba nghìn.

 

Ngâm xong lên bộ đi tới chùa Cổ Pháp nghe thấy trẻ chăn trâu thổi sáo ở Vu Ung đa về, thấy con cò về nghĩ tổ cũ ở Tần Xuyên trông bờ bên phơi phới sương sa báo hiệu bắt đầu mùa đông tới, mới vừa chập tối, liền lên tới cửa Tam Quan, liền sai Phổ Y thông báo trước xin vào chùa trong. Nam già thấy nói liền ra cửa đón rước, đặt giường rải chiếu, khoản đãi rất ân cần, Tổ Sư ngồi thiền định suốt đêm không ngủ. Gần sáng nghe tiếng chuông liền đến trước nhà đỉnh lễ chư Phật, ngửa trông lên thời hỏi ra mới biết đây là tôn thờ Đức Điều Ngự. Tổ Sư liền sai Quản thành viết ngay một bài thơ dâng lên đốt đi xong đỉnh lễ, bài thơ ấy như sau:

Tiền quốc vương hề hậu quốc vương

Tiền hà hâm mộ, hậu hà mang

Hữu linh tương nguyện kim phiên xuất

Ư cửu trùng môn nhập bất phương.

Tạm dịch:

Trước sau Vua vẫn là Vua

Xưa sao hâm mộ bây giờ chẳng ưa

Có thiêng hiển hiện ngay cho

Cửa Vua nguyện được tự do ra vào.

 

Lễ xong lại tới am cỏ già lam (người giữ chùa) thành tâm cúng dàng trai nghi, vợ chồng đóng cửa cùng ra cúi đầu đỉnh lễ, ăn xong chú nguyện cho rồi lại lên đường ra đi. Đi khoảng ba ngày thì đến bến đò cũ bên sông Nhị, mặt trời soi suốt lòng sông, khắp cả phố khách quang hòa, nhà cỏ hai bên đối diện nhau, ngẩng đầu lên trông trên các tía chủ khách thân nhau, ở trong sông Tế liền ngâm một bài thơ Đường luật rằng:

Nhị thủy thao thao bích kỷ tầm

Nhất tâm hồng nhật chiếu giang tâm

Diêm Mai chu ấp nhiêu tha chí

Tế độ minh huân lạc ngã tâm

Tạm dịch:

Nước sông Nhị mông mênh nghìn trượng

Ánh hồng soi tới tận đáy lòng

Thuyền mai chèo quế vẫy vùng

Đem ra tế độ thỏa lòng ta đây.

***

Thượng hạ thanh phân, vô cựu nhiễm

Đông tây quang chiếu, bất hôn trầm

Đài đầu tự các tương thân cận

Chỉ nhật đăng đàn thuyết pháp âm

Tạm dịch:

Bụi xưa không vướng mảy may

Bóng soi khắp cả đông tây không chìm

Lầu son gác tía kề bên

Đăng đàn thuyết pháp ta lên có ngày.

 

Ngâm xong rời chân sang con đường khác, vừa đi tới cửa Đông, bấy giờ trời đã tối (giờ Dậu) bên tai nghe tiếng kiểng tiếng mõ hợp nhau ở gần nơi nhà ngục, tưởng đây là có người tín tâm bước chân tới cửa ngoài gõ cửa hỏi: “Đây có phải là nhà chủ nhân tiếp vào nhà cỏ”. Ngửa lên trông thấy trên bàn đèn nến sáng trưng, thờ phụng rất trang nghiêm mới hỏi rõ chủ nhân mọi việc trước sau rằng: “Làm sao trong nhà lại thờ Phật, tượng này ở đâu đưa lại”. Chủ nhà đáp: “ Tôi là người cai coi ngục, nhân đào được một pho tượng đồng ở dưới đất đem về giấu kín ở trước cửa đền Bạch Mã, ngoài thành. Từ đấy thần ở đền Bạch Mã ra vào không được, khiến cho cả phố phường không được yên ổn. Đi xem bói, người ta đoán rằng “Phật ở ngoài thành, thần ở trong không dám ở”. Người ở phố về đều xét thấy thế, mới chiêu đề (yết thị) lên rằng: “Người nào giấu tượng phải kíp rước đi nơi khác mới khỏi bị tội lỗi, vì thế chúng tôi lại rước về thờ ở đây”. Tổ liền nói với chủ nhà rằng: “ Phật đã linh thông như thế, có lẽ nào lại thờ ở nơi thấp bé như thế này, nếu không xây dựng nhà cao thì làm sao hoằng dương được Phật Pháp, tôi muốn cùng với các nhà có danh tiếng ngày mai ra phố quyên tiền của để mua gỗ rừng và nguyên vật liệu xây dựng thành chùa (tự vũ). Nhà chủ thấy nói liền vui mà theo ngay. Sáng hôm sau ra quyên tiền ở phố phường, gặp ngay quan Đề lĩnh bắt đưa về cửa dinh chất vấn rằng: “Hiện nay đương vâng mệnh vua truyền khắp thiên hạ, phàm đâu có Tăng Ni già trẻ, đều phải vào ở trong núi rừng, vậy vị Tăng này là người phẩm giá như thế nào, mà lại vất bỏ núi rừng dám về nơi kinh kỳ phố xá đi lại tự nhiên như thế, có phải là khinh mạn pháp luật của nhà Vua không?”. Tổ sư trả lời: “Mệnh lệnh của Vua hãy còn đây, có lẽ nào lại không tôn giữ được ư”. Chỉ vì thuyết (Dốt tôi) ở trong núi sâu, có được một viên ngọc sáng, đặc biệt mang tới đây để dâng hiến, vậy xin ông vì tôi đề đạt lên Vua cho tôi tiến ngọc xong tôi lại về thôi. Mong sao cho khỏi bận chân ở chốn cửa quyền. Người quan kia nghe nói, liền tới cửa Vua đem việc này tâu lên. Vua liền sai quan Đề lĩnh ra lấy ngọc sáng, đưa vào Trẫm xem. Quan Đề lĩnh tiến tới cửa ngọc lên trình Tổ Sư, thì Tổ Sư nói: “Dốt tôi đã định dâng ngọc sáng, thì đâu còn có tâm sẻn tiếc gì mà không nộp. Song chỉ sợ ngọc sáng rất khó cầm giữ trong tay, ngọc thiêng liêng quý báu vô giá này không thể cho người ăn các thứ hôi tanh cầm được. Dám phiền ông lại về trình giúp, để cho tay Dốt tôi được mang tấc ngọc quý báu dâng lên Vua, cho phụ lòng trung thành của kẻ một mình ở nơi hoang vắng, cho mặt được đối trước cửa trùng, cho toại chí trong trắng ở chốn Lâm tuyền”. Khi vào tâu rồi trở về trình báo cho biết là Vua không bằng lòng. Tổ Sư than rằng: “Mặt trời tuy sáng tỏ, không thể nào tránh khỏi thước mây lại che lấp, mặt trăng vốn tuy có tưng bừng, nhưng chỉ vì tấc mây mờ ám, việc xảy ra như thế này biết làm thế nào bây giờ”. Suy nghĩ một lúc liền ngâm một bài thơ như sau:

Nhật xuất đoan phi nhật bất quang

Chỉ duyên xích tụ tắc minh mang

Từ phong phiến khởi suy vân tán

Hách hách minh minh chiếu tứ phương.

Tạm dịch:

Đã mọc mặt trời đâu chẳng sáng

Vì sương mù khuất ánh hào quang

Gió từ quét sạch mây tan hết

Soi sáng tưng bừng khắp bốn phương

 

Tổ Sư ở đây trải đã 9 tuần (3 tháng) xét thấy không thấu suốt các lần cửa thì có lẽ nào cam tâm trở về không ư, suy nghĩ đến đây, liền viết một tờ tả tất cả về lý tính, tu thân tề gia trị quốc, nhất nhất tả rất rõ ràng cả trước sau. Tỷ dụ Đạo Phật như viên ngọc minh châu hay soi sáng cho khắp cả mười phương những chỗ tối tăm. Viết xong để trong một cái hộp dán kín cả trên dưới rất cẩn mật, rồi lại phiền quan Đề lĩnh đưa vào tâu lên Thánh thượng (Vua) và yêu cầu Vua cho chọn lấy một quan văn trong lòng trung thực, ngồi thật thanh liêm, tắm rửa ba ngày, ăn chay giữ giới, có thể tới đâu tôi đưa viên ngọc để nhờ viên quan ấy tiến Vua. Quan Đề lĩnh đem ý kiến này tâu lên Vua, Vua nghe xong liền phán cho Viện Hàn lâm chọn lấy một người rất tin cẩn, thành tâm trai giới ba ngày để tới chỗ vị Dã Tăng (Tăng nhà quê) để lấy ngọc đưa tiến, vị quan văn phụng mệnh dốc lòng trai giới xong tới dinh Đề lĩnh hỏi vị Tăng để lấy ngọc. Tổ Sư giao cho cái hộp nói là trong đựng ngọc sáng, phải bưng cẩn thận, chớ sai suyễn mảy may, viên quan văn bưng hộp tiến lên trước Vua, mở ra chỉ thấy có một tờ giấy trắng mực đen, tuyệt không thấy một tấc ngọc nào, vị quan văn quỳ xuống đọc tụng trước sau rất rõ ràng, mặt rồng nghe hiểu rõ lời lẽ trong đó diễn tả đạo lý rất tinh tường, liền nói nhỏ mà chỉ phán rằng: Không ngờ thuyền sư bình thường (lai thảo) lại có tài biện bác rõ ràng đến như thế này vậy có thể cho gặp một phen đối diện xem thế nào, quan Đề lĩnh vâng mệnh dẫn Tổ Sư vào. Vua cho ngồi một bên ngay trước Vua, Vua thân tới hỏi về mọi sách lược (chính sách) Tổ Sư ứng đối đủ mọi sự lý rất dung thông, ngay bây giờ vua phán rằng: “Đạo Phật là viên ngọc sáng, có lẽ một nước lại không thể dùng hay sao, các vị Tăng có thể khuyên người làm việc thiện, thì làm sao có thể vất bỏ đi xa được, nếu như cho khai hóa giúp dân, cũng là một phương pháp tốt cho chính trị”, Vua liền phán cho mời Tổ Sư ở lại chùa Bảo Thiên để hành đạo lễ bái, cầu cho quốc thái dân an. Qua được hơn một tháng, Hoàng Thượng nghe tiếng, sai quan Trung sử xuống nói nhà Vua thỉnh truyền sư vào cung Vua. Tổ Sư theo sứ vào trong điện, Vua cho ngồi giảng kinh.

Vua ra ngồi nghe hiểu thấu đạo lý, mở thấm lòng, Vua đặc biệt ban cho khám sơn, để cho tiện đi lại hỏi han. Từ đây lúc thì lên điện các, giảng kinh cầu vững ngôi Vua, lúc vào cửa phủ tuyên dương ngọc kệ, cho đạo vua trường thịnh, Vua nghe Phật Pháp mở rộng lòng nhân từ mà tự quy y, văn vũ nghe kinh giáo tỏ được tính địa để cùng về thụ giáo, mưa pháp thấm cửa son, nhà trắng, gió từ thổi khắp huyện đổ châu thần. Đèn tuệ sáng rồi, soi hết đường mê, gậy tích ngại gì không về rừng cũ. Bấy giờ Tổ Sư vào tâu vua xin cho làm 10 điều thiện, để giáo hóa muôn dân thường xem ba xe để vẹn tròn nhất tính. Tôi còn có Thầy già cả ở nơi lâm tuyền, xin được về thăm, được gần hầu hạ thăm hỏi, Vua rất vui mừng, ban cho áo gấm để làm sự an ủi tâm cụ già, và cho tiền bạc để làm phí tổn về đường, hẹn độ một vài tuần lại trở về triều (đình) cho Vua khỏi nhớ đi xa, được gần luôn để hỏi đạo. Tổ Sư từ tạ rồi lên đường ngay hôm ấy, đi một lúc thì ra tới bến đò Bồ Đề, trông thấy nước sông Nhị trong suốt thuyền lớn nhỏ đi lại tự do, liền cảm hứng làm bài thơ sau đây:

Thiền tâm nhĩ thủy trọc hoàn thanh

Phao khá đông tây vãng phục hành

Hỷ đáo Bồ Đề đồng đáo ngạn

Toại dư xuất thế đọ quần sinh.

Tạm dịch:

Sông Nhị đục thành trong suốt

Thuyền bè đi lại được tự do

Mừng cùng tới bến bờ Bồ Đề cũ

Thỏa lòng ra cứu độ quần sinh.

Ngâm xong cả đoàn đi thẳng về con đường Đông Triều, khi về tới Hạ Long thì thân bằng cố hữu kéo nhau ra vây kín cả chung quanh chào đón thăm hỏi, chim muông ríu rít liệng bay, kêu hót chào đón Tổ Sư về tới nơi lên thẳng đại điện đỉnh lễ mười phương chư phật xuống nhà Tổ làm lễ tam thừa thánh triết, sau cùng vào nhà Phương trượng đỉnh lễ Nghiêm sư (Thầy nuôi) nói rõ mọi việc về kinh đô, kể cả truyện Vua nghe giáo pháp, mừng nhất là việc từ nay các vị Tăng ni tùy duyên muốn ở đâu thì ở không ngại gì thành thị hay lâm tuyền, các vị tu hành không cứ đồng bằng hay rừng núi tùy ý muốn ở đâu cũng được. Thầy trò chuyện trò bày tỏ, anh em bầu bạn thổ lộ hết tim gan phổi mật rất phù hợp, cho bõ lúc buồn thảm, Tổ Sư lại lễ Thầy nghiệp sư mong Thầy hãy di dưỡng tính tình nhàn hạ ở nơi rừng thông gió thổi, suối đá nước reo. Nói xong liền tạ từ rồi lại trở về kinh đô, tùy cơ giáo hóa, ở nơi bảo các châu cung (các báu cung ngọc) lân la đường cũ, quanh quẩn đi lại chốn kinh đô, lại vào yết kiến minh quân trên điện, rồi sang tiếp kiến quân vương trong phủ. Những ngày nhàn rỗi, Vua tôi nghe giảng kinh thuyền, khi thong thả các quan văn võ thăm hỏi Phật Pháp, ban cho Hòa Thượng chức Ngự tiền Chi quân (ngồi ở trước Vua), Sư Tổ cố từ chối mà chỉ nhận áo gấm của Vua cho, không giám khước từ của tứ ân rộng lớn, kiên trì định tuệ để báo ân, đi lại sáu đường để làm phúc duyên mà tế độ, trước khắc bản Kinh Hoa Nghiêm để bản thảo ở chùa Báo Thiên cho người sau hiểu, sau khắc bản Kinh Pháp Hoa để ở Khán Sơn cho người sau tới in.

Bấy giời có bà Quốc nhũ (mẹ nuôi cho Vua bú sữa) quê ở con đường Hòe thỉnh cầu Vua phát tâm đại hưng công cho Tổ Sư được tu sửa lại chùa Hồng Phúc, Tổ Sư nhận lời đi tới chùa Hồng Phúc ở đường Hòe khởi công xây dựng không bao ngày đã được hoàn thành, trông bốn bên lầu ngọc đài yên, làm lễ hoàn thành khánh tán rất linh đình, khi xong hãy còn thừa của lại đem sang lập chùa Cầu Đông, khi phúc quả viên thành, lại cho người lãnh binh coi ngục làm Già Lam Tăng (Thầy ở coi chùa) để trông coi đèn hương ở chùa Cầu Đông. Tổ Sư bấy giờ tới nơi điện quyết (cung Vua) nói xin cảm tạ nhận Khán Sơn, lại vào cửa phủ trình bày về việc ở Báo Thiên, đồng thời cũng nói cho ở luôn cả chùa Hồng Phúc (Hòe Giai), cầu chúc cho nền chính trị được thịnh vượng, vững chắc, chuyển tụng chân kinh để cho nước được vũng bền, sông trong bể lặng. Một hôm ngồi hầu Nghiêm Sư ở Hạ Long, trao pháp truyền áo thì Nghiêm sư viên tịch, xong ba năm việc hiếu rồi cắt cử hai vị cùng là bạn tốt, một vị ở chùa Hạ Long, một vị ở chùa Nhẫm Dương nối ngôi công, Tổ Sư thường ở chùa Hồng Phúc thay Phật tuyên dương giáo pháp, thời thường được Vua cho mời vào lầu son để hỏi văn chương nghĩa lý thâm huyền, lúc thì nghe vua triệu lên gác tía để tuyên bí chú. Trải qua ngày tháng thoi đưa, năm ấy tôi vừa tròn 60 tuổi (tòng tâm) hiểu rõ việc đời là vô thường, biết được sắc thân đã hết báo, liền cho triệu đệ tử tên là Hạnh Nhất lại mà dặn rằng: Gió từ thổi lên cuộn hết đám mây che phủ đều bị tan hết, vầng mặt trời trí tuệ sáng chói cùng gió mát đưa khắp trong chiều ngoài nội nhưng không hề trụ trước vào không vẫn hoàn không, trước sau như một, cho ngươi ra ba điểm hiện mật, để cho ngươi giữ lấy trung đạo ra đời độ người nay cũng như xưa, trời tây cõi đông đạo vốn cũng như nhau. Dặn cho xong rồi, ngồi yên trên giường thuyền viên tịch, bấy giờ là năm thứ 5 niên hiệu Vĩnh Thịnh triều Lê (tức đời Dụ Tông) là ngày 16 tháng 7 năm Kỷ Sửu, Tổ Sư thọ được 72 tuổi đời. Hoàng Thượng nghe tiếng Tổ viên tịch, Vua đổi áo hoa để đi đưa và sai các quan bưng long chương tới đặt tên hiệu Tổ là Đại Thừa Bồ tát quốc, Vua ban cho các quan tới phố Hòa dụ cho làm lễ tế tự và ban cho tiền bạc để giúp vào việc Trà tỳ (Hỏa táng). Bấy giờ cả tứ chúng theo đúng pháp lập đàn hỏa táng ở trên ngọn núi thu toàn bộ xá lợi đưa về đất Đông Triều, xây một ngôi tháp ở đầu núi Nhẫm Dương, xây một cây tháp ở bụng núi Hạ Long để thờ phụng hương khói, đời đời làm rạng rỡ tông môn giữa càn khôn Đông Chấn, ngang cùng mặt trời mặt trăng trong cõi trời Nam.

 

 


 
 
Quay lại   
 

Thư viện ảnh

 
Hát về Kinh Môn
BỘ PHẬN MỘT CỬA
 
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay65 
 Hôm qua44
 Tuần này65 
 Tất cả164166 
IP: 3.237.94.109